Một nghiên cứu của Bưu điện Anh
đã đặt tên cho nỗi sợ này.

Nomophobia là nỗi lo khi bị cắt khỏi điện thoại. Nó có tên gọi, một thang đo 20 mục và mối liên hệ đo được với giấc ngủ kém, nhưng không có chẩn đoán chính thức, và khoảng trống đó mới là điều đáng chú ý.

Matthew KNhà sáng lập, Fella
Hướng dẫn

Nomophobia là viết tắt của “no mobile phone phobia” — nỗi sợ không có điện thoại. Nó mô tả sự lo âu xuất hiện khi ai đó bị cắt khỏi điện thoại, dù là làm mất máy, hết pin, mất sóng hay chỉ đơn giản là ở nơi không thể kiểm tra nó. Vấn đề không nằm ở bản thân chiếc điện thoại. Nó nằm ở sự khó chịu cụ thể khi không có quyền truy cập vào nó.

Thuật ngữ này có lịch sử nghiên cứu thực sự đằng sau nó, một cách đã được kiểm chứng để đo lường và một mối liên hệ được ghi nhận với giấc ngủ tệ hơn. Nó cũng không có chẩn đoán chính thức trong các sổ tay mà bác sĩ tâm thần thực sự dùng. Cả hai điều đều đúng, và khoảng trống giữa chúng là phần hữu ích nhất để hiểu nomophobia thực sự là gì.

Thuật ngữ thực sự đến từ đâu

Nomophobia được đặt ra trong một nghiên cứu năm 2008 do Bưu điện Anh ủy quyền và YouGov thực hiện. Nghiên cứu khảo sát hơn 2.000 người dùng điện thoại để đánh giá liệu lạm dụng điện thoại có đang tạo ra một rối loạn lo âu thực sự hay không. Kết quả: 53% người tham gia cho biết cảm thấy lo âu khi làm mất điện thoại, hết pin hoặc mất sóng. Nam giới báo cáo nhiều hơn nữ giới một chút, 58% so với 47%, điều đi ngược giả định thường thấy về ai gắn bó với điện thoại hơn.

Đây là ghi chú lạ mà hầu như không ai nhắc tới: từ này vốn đã tồn tại, với nghĩa hoàn toàn khác. “Nomophobia” lần đầu được ghi nhận năm 1803 như một từ ghép tân cổ điển mô tả nỗi sợ luật lệ hay quy tắc. Nghiên cứu năm 2008 không phát hiện ra từ mới mà tái sử dụng một từ cũ tình cờ lại khớp.

Các nhà nghiên cứu thực sự đo nó như thế nào

Công cụ chuẩn là Nomophobia Questionnaire, hay NMP-Q. Nó gồm 20 mục, mỗi mục chấm trên thang 7 điểm từ hoàn toàn không đồng ý tới hoàn toàn đồng ý, cho tổng điểm từ 20 tới 140. Điểm 20 nghĩa là không có nomophobia đo được. 21 tới 59 là nhẹ, 60 tới 99 là trung bình, và 100 trở lên được coi là nặng.

20 mục được chia thành bốn chiều riêng biệt, được xác định qua phỏng vấn sinh viên đại học trước khi xây thang đo: không thể giao tiếp, mất kết nối, không thể truy cập thông tin và từ bỏ sự tiện lợi. Cùng nhau chúng giải thích gần 70% phương sai trong cách mọi người trả lời, một kết quả mạnh với thang đo cỡ này.

Nó sau đó đã được dịch và kiểm chứng lại ở nhiều quốc gia và nhóm tuổi, bao gồm các bản điều chỉnh ở Bồ Đào Nha, Đức và Peru, và một phân tích lý thuyết đáp ứng mục quy mô lớn bao phủ hơn 5.000 người tham gia. Đó là một công cụ được kiểm nghiệm thực sự kỹ lưỡng, dù bạn nghĩ gì về câu hỏi chẩn đoán nền tảng.

Mức độ phổ biến thực sự

Con số thay đổi khá nhiều theo nghiên cứu và quần thể, và chính sự thay đổi đó cũng đáng để biết. Một khảo sát trên 630 học sinh trung học phát hiện 65,4% có nguy cơ nomophobia và 20,6% đã biểu hiện nó. Trong số người có triệu chứng đo được ở các nghiên cứu khác, khoảng 25% rơi vào mức nhẹ, 50% trung bình và 20% nặng.

Một tổng quan hệ thống về nghiên cứu tỷ lệ nomophobia đã chỉ ra cụ thể sự không nhất quán về phương pháp giữa các nghiên cứu như một vấn đề, và thúc đẩy các hướng dẫn chuẩn hóa cho tương lai. Đó là lời cảnh báo hữu ích: hãy coi bất kỳ con số tỷ lệ đơn lẻ nào, kể cả những con số trên trang này, như ước tính từ một mẫu cụ thể, không phải tỷ lệ toàn cầu cố định.

Nó có thực sự là một chẩn đoán không? Không, và điều đó rất quan trọng

Nomophobia không xuất hiện trong DSM-5 hay ICD-11, hai sổ tay mà bác sĩ lâm sàng thực sự dùng để chẩn đoán bệnh. Các nhà nghiên cứu tham gia phát triển NMP-Q đã nói rõ bảng hỏi xác định người có nguy cơ nomophobia, chứ không phải chẩn đoán lâm sàng cho nó.

Có một câu hỏi thực sự, chưa được giải quyết nằm bên dưới: nomophobia là thứ riêng biệt, hay một triệu chứng khoác tên mới? Một số bác sĩ cho rằng khó tách một người phát triển lo âu đặc thù với điện thoại khỏi một người vốn đã có rối loạn lo âu và tình cờ biểu hiện quanh điện thoại. Những bình luận kéo dài hơn một thập kỷ đã phản đối ngôn ngữ “nghiện điện thoại” nói chung, cho rằng nó y tế hóa một sự khó chịu phổ biến, mức độ thấp.

Cả mô hình đo được lẫn sự hoài nghi đều đáng giữ cùng lúc. Lo âu mà các nhà nghiên cứu mô tả là có thật và được báo cáo nhất quán qua các nghiên cứu. Liệu nó có xứng đáng được coi là một rối loạn độc lập, thay vì gộp vào cách lo âu vốn đã vận hành, là một câu hỏi khoa học thực sự để ngỏ, không phải câu đã chốt.

Con đường từ FOMO tới giấc ngủ

Một nghiên cứu mô hình hóa cách doomscrolling ảnh hưởng tới giấc ngủ đã phát hiện một chuỗi cụ thể, không chỉ tương quan chung chung. Doomscrolling làm tăng FOMO. FOMO tăng cao làm tăng nomophobia. Nomophobia liên quan tới chất lượng giấc ngủ kém hơn. Đó là một chuỗi, không phải nguyên nhân đơn lẻ, và nomophobia nằm ở giữa như cơ chế nối thói quen buổi tối với giấc ngủ ban đêm.

Điều đó quan trọng vì nó nghĩa là lo âu không chỉ gói gọn trong khoảnh khắc điện thoại ngoài tầm với. Nó được chỉ ra cụ thể ở phần trong ngày khi điện thoại đáng lẽ phải được đặt xuống trong nhiều giờ liền, và đó chính là lúc nỗi sợ bị ngắt kết nối được kỳ vọng sẽ lên đỉnh.

Vì sao tách rời có cấu trúc hiệu quả hơn ý chí

Cách tiếp cận lâm sàng với nomophobia, ở nơi chúng được dùng, dựa vào liệu pháp tiếp xúc: tăng dần lượng thời gian ai đó có thể chịu được khi xa điện thoại, theo từng bước nhỏ, có cấu trúc thay vì dồn dập một lúc. Liệu pháp hành vi nhận thức và điều trị lo âu nói chung cũng xuất hiện trong tài liệu, nhưng mô hình tiếp xúc là mô hình được xây cụ thể xoay quanh chính sự tách rời.

Fella không phải liệu pháp, nhưng nó vận hành trên ý tưởng cấu trúc tương tự. Ứng dụng vẫn bị chặn theo mặc định, và việc truy cập diễn ra trong một khung 5 phút cố định, có thể dự đoán mỗi ngày một lần, thay vì được thương lượng từng khoảnh khắc dựa trên cảm giác lo âu khi không kiểm tra ngay lúc đó. Đó là sự tách rời có cấu trúc, có thể lặp lại, cùng hình dạng mà các cách tiếp cận dựa trên tiếp xúc sử dụng, chỉ áp dụng cho các ứng dụng cụ thể thay vì cả chiếc điện thoại.

Mục tiêu không phải tranh luận nomophobia có tồn tại hay không. Dù nó có được một vị trí trong DSM hay không, lo âu quanh việc không thể kiểm tra điện thoại là thứ nhiều người nhận ra ở chính mình, và chặn mặc định cho lo âu đó một ranh giới cố định, đã biết thay vì một cuộc thương lượng mở mỗi khi thôi thúc xuất hiện.

Câu hỏi thường gặp về nomophobia

Nomophobia, viết tắt của “no mobile phone phobia” — nỗi sợ không có điện thoại, mô tả sự lo âu và sợ hãi mà mọi người cảm thấy khi bị cắt khỏi điện thoại, dù là làm mất máy, hết pin, mất sóng hay đơn giản là không thể kiểm tra nó.

Nó đến từ một nghiên cứu năm 2008 do Bưu điện Anh ủy quyền và YouGov thực hiện, khảo sát hơn 2.000 người dùng điện thoại và phát hiện 53% cảm thấy lo âu khi làm mất điện thoại, hết pin hoặc mất sóng. Điều lạ là cùng một từ này đã tồn tại từ năm 1803 như một thuật ngữ không liên quan chỉ nỗi sợ luật lệ hay quy tắc.

Không. Nomophobia không được công nhận là rối loạn chính thức trong DSM-5 hay ICD-11. Các nhà nghiên cứu phát triển công cụ đo lường chính cho nó đã nói rõ rằng nó có thể xác định người có nguy cơ, chứ không chẩn đoán một tình trạng lâm sàng, và một số chuyên gia cho rằng nó có thể chỉ là triệu chứng của lo âu sẵn có hơn là một rối loạn riêng.

Thang Nomophobia Questionnaire (NMP-Q) là thang Likert 20 mục, 7 điểm, bao phủ bốn chiều: không thể giao tiếp, mất kết nối, không thể truy cập thông tin và từ bỏ sự tiện lợi. Tổng điểm từ 20 tới 140, trong đó 21-59 được coi là nhẹ, 60-99 trung bình và 100 trở lên là nặng.

Ước tính khác nhau theo nghiên cứu và quần thể. Một khảo sát trên 630 học sinh trung học phát hiện 65,4% có nguy cơ và 20,6% đã biểu hiện nomophobia. Trong số người có triệu chứng đo được, phân bố ở các nghiên cứu khác cho thấy khoảng 25% nhẹ, 50% trung bình và 20% nặng. Một tổng quan hệ thống đã chỉ ra cụ thể sự không nhất quán về phương pháp giữa các nghiên cứu, nên các con số tỷ lệ chính xác nên được đọc như ước tính, không phải sự thật đã chốt.

Một nghiên cứu mô hình hóa tác động của doomscrolling lên giấc ngủ đã phát hiện một chuỗi tuần tự: doomscrolling làm tăng FOMO, FOMO làm tăng nomophobia, và nomophobia liên quan tới chất lượng giấc ngủ kém. Lo âu kiểm tra điện thoại không chỉ gây căng thẳng ban ngày, nó theo mọi người tới tận giường ngủ.

Các cách tiếp cận lâm sàng với nomophobia, bao gồm liệu pháp tiếp xúc, hoạt động bằng cách tăng dần khả năng chịu đựng thời gian xa điện thoại một cách có cấu trúc. Fella tạo ra cấu trúc tương tự mà không cần trị liệu: ứng dụng vẫn bị chặn theo mặc định với một lần mở khóa 5 phút mỗi phiên, nên một người thực hành việc không có ứng dụng theo lịch cố định, có thể dự đoán thay vì đối mặt lo âu đó một cách ngẫu nhiên.

Các nghiên cứu phát hiện tỷ lệ cao hơn ở nhóm trẻ hơn, bao gồm học sinh, sinh viên, có lẽ liên quan tới việc phụ thuộc nhiều hơn vào điện thoại hàng ngày cho giao tiếp và kết nối xã hội, dù phương pháp khác nhau đủ nhiều giữa các nghiên cứu nên việc so sánh trực tiếp cần thận trọng.

Có sự chồng lấn về khái niệm. Cả hai đều liên quan tới đau khổ gắn với việc tách khỏi thứ người đó đã dựa dẫm, dù nghiên cứu về nomophobia coi điện thoại cụ thể là đối tượng của đau khổ đó thay vì một người hay hình tượng gắn bó.

Làm chủ sự tập trung
Bắt đầu ngay bây giờ